|
- Nói mai một chắc cũng chẳng “ngoa”. Bởi, chỉ cách đây không lâu, khoảng mươi mười lăm năm về trước, cả xã Bình Trị Đông, nhất là tại ấp 1, ấp 2 - lúc đó còn thuộc huyện Bình Chánh (cũ), TP.HCM - đã nức tiếng khắp nơi, lan xuống miệt Miền Tây, rồi ra tận vùng Miền Đông Nam Bộ với làng bánh tét Bình Trị nổi tiếng.
Bánh nơi đây có “thương hiệu”, không những ngon, gói đều tay, để được lâu ngày, mà cái “được” hơn cả, đó là người làm bánh của vùng gần như gửi cả lòng mình trong chiếc bánh. Lúc nào họ cũng nghĩ, chiếc bánh là quà tặng lúc thăm thú nhau trong những ngày lễ, tết, giỗ. Chiếc bánh còn chứa đựng sự chúc phúc đến từng nhà, là quốc hồn, quốc tuý của dân tộc...
Chỉ còn là dư âm
Tôi có anh bạn học cùng lớp gốc người Bình Trị... bốn đời. Thật tình cờ, trong những lúc hàn huyên, anh vô tình nhắc đến chuyện quê anh, nơi nổi tiếng với làng nghề se nhang, làm bánh tét...
 |
| Đốt lò nấu bánh |
Tò mò về một làng nghề nổi tiếng nay còn hay mất, tôi năn nỉ mãi, anh mới sắp xếp được công việc rồi dẫn tôi đến cơ sở bánh tét Huỳnh Mai ở số 703/8 tỉnh lộ 10, thuộc khu phố 2, P.Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, nơi duy nhất còn sót lại nghề làm bánh tét. Và như anh bạn tôi bảo, chủ cơ sở muốn “níu kéo” lại một nghề truyền thống đang dần bị mai một.
Đúng là cơ sở sản xuất làng nghề. Giữa đô thị nhưng khi bước vào sân, đập ngay vào mắt khách đó là đống củi “to tướng”. Rồi nào lá tre, lá chuối, những sọt đựng chuối vàng ươm và cả đống dây nilon để cột bánh nằm chật một góc sân. Dưới hiên nhà, hàng chục người thợ, với từng công đoạn, đang thoăn thoắt để cho ra đời những chiếc bánh trông thật "ngon" mắt. Từ sau bếp, nước nấu bánh với mùi đặc trưng thơm hương lá chuối thoang thoảng khắp phòng...
Gặp anh Huỳnh Văn Út - tên trùng với thứ út trong gia đình, là con ruột bà Nguyễn Thị Ngàn, 74 tuổi, chủ lò bánh đã hơn 40 năm nay. Anh rất rành nghề bánh tét, bởi gia đình anh làm nghề này đã được ba đời. Trong tiết se lạnh của những ngày cuối năm, bên tách trà nóng, từ trong ký ức, anh tâm sự về nghề của gia đình...
Trước đây, làng Bình Trị có rất nhiều cơ sở làm bánh tét. Có thể liệt kê những lò nổi tiếng lâu đời như: bánh tét bà Ba Kiểu, lò ông Tư Ấu, ông Sáu Còng… Sản phẩm truyền thống của địa phương đã nổi tiếng khắp vùng bởi bánh thơm ngon, gói đều tay, là món quà không thể thiếu trong những ngày giỗ, tết, cúng quảy của mọi nhà trong vùng.
 |
| Những người thợ đang gói bánh |
Nói về chuyện bánh tét Bình Trị có “đặc trưng” riêng, không thể lẫn với bánh tét nơi khác, anh Tư Mẫn, anh ruột anh Út cho rằng, xã Bình Trị “may mắn” có được mạch nước ngọt… tinh khiết, không pha lẫn chút phèn. Mà việc đầu tiên cũng là một trong những yếu tố căn cơ, muốn bánh ngon thì nước nấu bánh phải ngọt.
Ðã vậy, Bình Trị cùng các xã lân cận như Bình Hưng Hòa, Tân Tạo là nơi gò cao nên chuối trồng nơi đây có lá mỏng, lớn tàu. Hơn nữa, cây đậu sống trên vùng đất gò này cho ra những hạt đậu mỡ, lớn hột, thơm, béo, đậm đà hương vị. Và đặc biệt, nếp mùa của vùng làm nguyên liệu gói bánh tét thì… không nơi nào sánh nổi. Rồi chuyện làm ra chiếc bánh thì chỉ có những người thợ của xã, với những kinh nghiệm của riêng mình, họ đã nâng thêm giá trị thương hiệu bánh tét của làng Bình Trị.
Còn với bà Sáu Ngàn, trong trí nhớ của mình, bà vẫn nhớ như in thời hoàng kim của làng nghề. Bà bảo, cách đây không lâu, chỉ mươi mười lăm năm về trước, vào những ngày giáp Tết, hay những rằm lớn, nơi đây thật chộn rộn bởi “người người làm bánh, nhà nhà làm bánh” tạo nên không khí như đi... trẩy hội. Cũng nhờ làng nghề này mà hàng trăm lao động đã có công ăn việc làm, giúp nhiều mối lái cung cấp nếp thơm, lá chuối, lạt, thịt, đậu... làm giàu.
Cũng từ sự nổi tiếng, nhiều du khách khi đi qua làng nghề ráng tạt vào thăm thú, mua vài đòn bánh tét, bánh ú về làm quà. Còn những mối lái, trong những ngày đại lễ của dân tộc, sợ "cháy hàng" nên nhiều người đã phải đặt đơn trước từ nửa tháng may ra mới có bánh. Và cũng từ nghề truyền thống này, nhiều gia đình đã có của ăn của để, xây nhà tường, có tiền cho con ăn học thành tài.
Đó là chuyện của ngày xưa, thời mà làng nghề “ăn nên làm ra” cách đây đã hàng chục năm.
Còn bây giờ, làng nghề gần như teo tóp, chỉ còn lại vài ba gia đình cố níu kéo cái nghề truyền thống của làng. Nói về chuyện này, anh Út giãi bày, tốc độ đô thị hoá nơi đây nhanh quá, gần như muốn “nuốt chửng” cả làng nghề. Đã vậy, công lao động thấp, thanh niên trong làng muốn làm ở công ty, xí nghiệp có thu nhập cao, không phải “còng lưng gói bánh, hít khói xung quanh”, lại thức khuya dậy sớm. Hơn nữa, thời gian gần đây, giá các loại phụ liệu như nếp, lá chuối, củi, thịt, đậu xanh... cứ lên vù vù trong khi giá bán bánh chẳng tăng là bao. Lại còn chuyện, các sản phẩm về bánh thì có “hằng hà sa số” trên thị trường nên số lượng bánh bán ra giảm đáng kể... Những nguyên nhân trên khiến làng nghề càng teo tóp, mai một.
Níu kéo lại làng nghề
Khi được hỏi về số cơ sở làm bánh hiện có trên địa bàn, anh Út bộc bạch, chắc có lẽ chỉ còn mỗi nhà anh. Mà anh cũng thú thiệt, tất cả sản phẩm làm ra đều được bán cho các công ty để... xuất ngoại.
Để có được bạn hàng là những công ty này, gia đình anh cũng phải trải qua cả một quá trình... tiếp cận. Lúc đó, khi những chiếc bánh của nhà được bày bán ở Chợ Lớn, nhiều người đã khen bánh tét bà Sáu ngon nhất hạng. Chẳng bao lâu sau, tiếng thơm này đã tới tai nhiều công ty có mối làm ăn với nước ngoài, nên họ đã tìm đến cơ sở để đặt hàng.
 |
| Sắp bánh |
Hôm tiếp chuyện cùng anh Út, hỏi về bí quyết để cho ra đời những chiếc bánh ngon, vừa lòng khách hàng, anh thật thà bảo: Trước hết, nguyên liệu đầu vào phải là thứ chính hiệu. Nếp mua tận miệt Cần Đước, Long An mới dẻo thơm. Thịt ba rọi ngon, đậu tròn hạt, mẩy đều. Đã vậy, lá chuối cần to bản, không sâu, tươi xanh, chuối đều quả, dây lạt chắc bền. Tuy nhiên, thời gian gần đây, chuyện lấy dây nilon buộc bánh thay cho dây lạt đã được các lò bánh áp dụng.
Chuyện gói bánh cũng cả một kỳ công, với những người thợ lâu năm kinh nghiệm, họ xúc nếp, thêm nhân gần như “trăm cái như một”. Khi gói bánh phải đều tay, buộc dây đến “độ” chặt. Có như vậy, nước không thể vào bánh khi nấu, lúc chín nhìn bánh đẹp, bắt mắt. Cũng nhờ kinh nghiệm, thợ nấu chỉ cần “ngửi hơi, nhìn nước” là biết bánh đã chín hay chưa. Trước khi xuất lò, cần xả nước trong nồi rồi cho nước lạnh để tráng bánh, có như vậy, lá bánh mới xanh, sạch. Cũng theo anh Út, tuỳ khách đặt hàng mà mỗi nồi có thể chứa từ 250-300 cái. Thông thường, bánh có trọng lượng từ 300-400 gram/cái. Nhưng theo yêu cầu của khách, nơi đây vẫn có thể cho ra lò những chiếc bánh từ 1,2-1,5 kg và những lúc đắt hàng, lò phải thuê từ 60-80 thợ làm mới đủ bánh để giao đúng hợp đồng...
Trở lại chuyện “níu kéo” lại nghề truyền thống của làng, anh Út tâm sự: “Bỏ thì tiếc, nhưng theo nghề này vất vả quá! Phải thức khuya dậy sớm, lợi nhuận lại chẳng được là bao”. Hơn nữa, trong những thời điểm đắt hàng, tìm người làm cũng thật khó. Thanh niên không muốn làm, người già chẳng còn ai. Nói xong, anh cười buồn bảo: “Chẳng biết còn làm được bao lâu nữa. Thôi, được ngày nào hay ngày nấy, thấy không làm nổi thì nghỉ”.
Tôi hiểu nỗi lòng anh, một gia đình đã có mấy thế hệ làm nghề truyền thống này. Theo thời gian, chắc có lẽ thế hệ mai sau chỉ biết được những làng nghề này qua trang sách, lời kể. Còn với nhiều người, khi đi qua vùng Bình Trị này, trong ký ức của mình bỗng nhớ lại, “Ừ! Ngày xưa, nơi đây có một làng bánh tét nổi tiếng” ...
|