|
| Ngân hàng Thế giới đề xuất cơ chế để tất cả học sinh đều được nhận một mức chất lượng giáo dục tối thiểu. Ảnh: SGTT | |
|
Hơn ai hết, bộ Giáo dục đào tạo là nơi nắm đầy đủ thông tin nhất về tình trạng này và phải có giải pháp. Thế nhưng, trả lời báo chí, một cán bộ thuộc hàng lãnh đạo của bộ nhận định rằng chuyện này là... bình thường!
Họp báo, bộ Giáo dục đào tạo công bố giai đoạn 2003 – 2007, năm có tỷ lệ bỏ học cao nhất ở bậc trung học khoảng 7,6%, bậc tiểu học khoảng 3,3%. Năm nay, con số tương ứng chỉ khoảng 1,2% và 0,2% với tổng cộng hơn 100.000 em.
Thế nhưng, đó chỉ là tỷ lệ thống kê trong nội bộ từng cấp học. Nếu tính liên cấp, tỷ lệ này cao hơn nhiều. Theo báo cáo Giáo dục Việt Nam – đầu tư và cơ cấu tài chính giai đoạn 2000 – 2006, năm 2006, gần 10% trẻ tốt nghiệp tiểu học không học tiếp lên THCS. Khoảng 44,5% trẻ tốt nghiệp THCS không học tiếp lên THPT.
Tất nhiên, có sự khác biệt tương đối về nguyên nhân bỏ học trong trường hợp này nhưng trong bối cảnh nước ta đang tiến tới phổ cập bậc THCS rồi cả THPT, đang tỏ ra bất lực trong việc phân luồng học sinh vào các trường nghề thì đó là những con số đáng suy nghĩ. Bao nhiêu con người đó ra xã hội sẽ làm gì, sống ra sao?
Hơn ai hết, bộ Giáo dục đào tạo là nơi nắm đầy đủ thông tin nhất về tình trạng này và phải có giải pháp. Thế nhưng, trả lời báo chí, một cán bộ thuộc hàng lãnh đạo của bộ nhận định rằng chuyện này là... bình thường.
Các nguyên nhân chủ quan về chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy... mà dư luận đề cập chưa được bộ thừa nhận (mới chỉ hứa sẽ khảo sát). Theo bộ, là do khách quan, do hoàn cảnh gia đình học sinh, nhà trường, địa phương khó khăn... Nói chung, căn nguyên từ điều kiện kinh tế – xã hội.
Vấn đề trách nhiệm có vẻ bị đẩy cho địa phương với lý do đã được phân cấp. Nhưng với tư cách là cơ quan quản lý giáo dục cao nhất nước, cơ quan đề xuất và làm chính sách, chẳng lẽ bộ không có sự liên quan nào đó?
Nghèo đi học đã khó. Điều tra mức sống tại Việt Nam cho thấy có sự khác biệt rất lớn giữa tỷ lệ trẻ đi học trong độ tuổi với mức sống. Cụ thể, ở cấp tiểu học mà ngành giáo dục đang phổ cập miễn phí, chỉ 84,5% trẻ ở nhóm 20% hộ nghèo nhất được đi học trong khi con số này ở 20% số hộ giàu nhất là 95,3%. Chênh lệch ở bậc THCS và THPT càng lớn hơn, 53,8% và 85,8% đối với THCS; 17,1% và 67,2% đối với THPT.
Học được, học đậu còn khó hơn. Trong khi tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông năm học vừa rồi của cả nước là 66,7% thì hàng loạt các tỉnh miền núi có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn đạt rất thấp, như Tuyên Quang (14,1%), Bắc Kạn (20,3%), Sơn La (24,4%), Yên Bái (26,7%)...
Đã cố mà không được, không đậu, chỉ có nước bỏ học!
Một chỉ số về công bằng xã hội trong quản lý nguồn lực cho giáo dục là tỷ lệ lợi ích thu được từ chi tiêu công cho giáo dục giữa người giàu và người nghèo. Năm 1998, ở bậc THPT, nhóm nghèo nhất chỉ hưởng 4% trong khi nhóm giàu nhất được tới 38%, tỷ lệ này vào năm 2002 là 9% và 26%. Có thể do nhiều người nghèo không học lên THPT nên không có cơ hội hưởng.
Việc phân cấp ngân sách giáo dục cho địa phương nhưng không có cơ chế giám sát việc thực hiện đang khiến địa phương, nhất là địa phương nghèo có khuynh hướng lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia mà việc nợ lương giáo viên là một ví dụ.
Hàng loạt chính sách tài chính giáo dục kiểu “nhà nước và nhân dân cùng làm” đang đẩy vùng nghèo, người nghèo vào hoàn cảnh khó khăn. Đóng góp của phụ huynh được coi là một nguồn tài chính giáo dục nên tại những vùng phụ huynh không thể đóng góp nhiều, đầu tư bị thua sút. Trong khi đó, lại có chủ trương tăng học phí.
Để đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, nhóm nghiên cứu “Việt Nam – quản lý chi tiêu để tăng trưởng và giảm nghèo” do ngân hàng Thế giới thực hiện đã đề xuất cơ chế để tất cả học sinh đều được nhận một mức chất lượng giáo dục tối thiểu. Theo đó, cần xây dựng mức chi ngân sách tối thiểu cho một học sinh với đầy đủ các yếu tố như: Chi lương, chi ngoài lương, chi trang thiết bị, duy tu, bảo dưỡng trường lớp. Các địa phương có quyền tự chủ thực hiện trong việc cung cấp nhiều hơn nhưng không được ít hơn mức này.
Bên cạnh việc nhanh chóng tìm lời giải chủ quan từ phía mình, có lẽ, đây là cách giải quyết nguyên nhân khách quan của tình trạng bỏ học một cách căn cơ nhất mà bộ nên làm.
(Theo Sài gòn Tiếp thị) |