21/05/2011 09:48
Đích thân Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Đặng Ngọc Tùng đã làm việc với Công ty TNHH Nike
Việt Nam (58 nhà máy với 240.000 CN gia công, chi phí bình quân 9.000 đồng/suất ăn) để bàn giải pháp nâng cao bữa cơm công nhân - một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp lao động.
Chúng tôi đã phỏng vấn Chủ tịch Đặng Ngọc Tùng về việc phải làm gì và làm thế nào để đời sống công nhân thực sự được cải thiện, mang lại quan hệ lao động hài hoà trong doanh nghiệp. Chủ tịch Đặng Ngọc Tùng cho biết:
Nguyên nhân chủ yếu có tính phổ biến của tranh chấp lao động chính là tiền lương. Bữa ăn cũng như các khoản phụ cấp nhà ở, xăng xe, chuyên cần, tiền thưởng... thực chất là tiền lương, nhưng được các chủ doanh nghiệp tách ra, không đưa vào HĐLĐ nhằm tiết giảm nghĩa vụ đóng BHXH cho NLĐ.
Đã thế, tất cả các khoản thu nhập của NLĐ bình quân chỉ khoảng 2,5 đến 3 triệu đồng/tháng, không đủ giải quyết các nhu cầu tối thiểu và đây chính là nguyên nhân thường xuyên diễn ra tranh chấp lao động.
Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Đặng Ngọc Tùng tiếp xúc công nhân Cty Hansoll để yêu cầu chủ doanh nghiệp giải quyết những nhu cầu của công nhân tại đây. Ảnh: D.M.Đ
Vì lương thấp, NLĐ buộc phải tăng ca triền miên để có thêm thu nhập bù đắp những khoản thiếu hụt trong cuộc sống, nên thường ngừng việc đòi nâng lương. Vì lương thấp (lại phải tăng ca quá mức), NLĐ không có điều kiện tự nấu ăn, nên vẫn xem bữa ăn phụ giữa ca là bữa ăn chính và là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu tái tạo sức lao động, nên thường ngừng việc đòi cải thiện bữa ăn.
Vì lương thấp, NLĐ không đủ trả tiền nhà trọ, điện, nước, tiền ăn... nên thường ngừng việc đòi mức lương cao hơn trong những dịp Chính phủ điều chỉnh lương tối thiểu (LTT) hoặc đòi tăng tiền thưởng cuối năm. Vì lương thấp, NLĐ không gắn bó với doanh nghiệp, khiến quan hệ lao động cũng không ổn định.
Đề nghị Chủ tịch phân tích rõ quan hệ về tiền lương trong các doanh nghiệp FDI?
Hiện, nước ta có hàng trăm “nhà thầu phụ” chuyên gia công các mặt hàng dệt - may, da - giày cho các tập đoàn đa quốc gia kinh doanh các loại hàng hóa có thương hiệu và lợi ích từ thị trường Việt Nam mang lại cho các chủ hàng rất lớn.
Ví dụ: công lao động tối thiểu ở một số nước từng SX dệt - may, da - giày hiện từ 3,5USD đến 4USD/giờ, với 8 giờ/ngày và 26 công/tháng một NLĐ phổ thông được trả từ 800USD đến 832USD/tháng. Thế nhưng, NLĐ phổ thông ở VN chỉ được trả khoảng 60USD đến 80USD/tháng, nếu tính cả tăng ca cũng chỉ khoảng 150USD/tháng.
Ví dụ thứ hai: Một đôi giày mũ da (có thương hiệu) giá xuất xưởng tại Việt Nam (bao gồm nguyên phụ liệu, nhà xưởng, khấu hao máy móc, điện, nước, công lao động...) khoảng từ 8,2USD đến 10USD/đôi, nhưng được chủ hàng bán vào EU khoảng 63USD đến 70USD/đôi (gấp 7 lần). Người tiêu dùng phải mua từ 100USD đến 140USD/đôi.
Về phía các “nhà thầu phụ” (tức chủ doanh nghiệp), thực chất là những người làm công hưởng phí quản lý, sản phẩm làm ra gồm những loại nguyên phụ liệu nào? nguồn cung cấp ở đâu? giá cả bao nhiêu? công LĐ ra sao?... đều do chủ hàng chỉ định, tính toán, quyết định “sát nút”.
Do đó, để hưởng lợi cao hơn, các chủ doanh nghiệp chỉ còn cách tiết giảm BHXH, BHYT, hoặc cắt xén tiền lương NLĐ... Chính vì vậy, trong các vụ tranh chấp lao động, chủ doanh nghiệp không tự giải quyết được các yêu sách của NLĐ, mà thường chờ xin ý kiến “Công ty mẹ” (tức chủ hàng).
Trước đây, các chủ doanh nghiệp khu vực FDI phân chia theo khu vực quốc gia, vùng lãnh thổ và nhà đầu tư, sau này họ hình thành tổ chức hiệp hội (là tiền thân nghiệp đoàn giới chủ), để liên kết thống nhất mức lương và các chính sách áp dụng thấp nhất cho NLĐ. Và, họ đã bám vào mức LTT (không sát thực tế) để trả công cho NLĐ mà vẫn không vi phạm luật.
Vậy, tổ chức Công đoàn đã và đang làm gì để cải thiện tiền lương công nhân, thưa Chủ tịch?
Các doanh nghiệp thâm dụng lao động thường sử dụng lao động trẻ và trả lương thấp nên NLĐ không có tích lũy, đến khi họ lập gia đình, sinh con đẻ cái, không đủ điều kiện giải quyết những nhu cầu tối thiểu khác với chi phí cao hơn, dẫn đến cả một thế hệ NLĐ sẽ nghèo khó, kiệt sức sau nhiều năm đóng góp làm giàu cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, với điều kiện sống thiếu thốn, cường độ lao động cao, đa số NLĐ không có điều kiện nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, đến khi tuổi cao, sức yếu, bị mất việc thì NLĐ cũng không biết lấy gì sinh sống. Hậu quả nặng nề này xã hội ta phải gánh chịu!
Vì vậy, Tổng LĐLĐVN đã kiến nghị, được Chính phủ chấp thuận giao Bộ LĐTBXH chủ trì cùng các bộ, ngành nghiên cứu tách LTT của NLĐ ra khỏi khu vực hành chính sự nghiệp. Tổng LĐLĐVN cũng giao Viện CNCĐ cùng Ban Pháp luật Tổng LĐLĐVN phối hợp với Trường ĐH Công đoàn và Trường ĐH Tôn Đức Thắng nghiên cứu để tham gia cùng các bộ, ngành xây dựng tiền LTT trình Chính phủ.
Tới đây, LTT của NLĐ sẽ không ấn định điều chỉnh theo lộ trình hiện nay, mà được quy thành “rổ thực phẩm” rồi cộng với trượt giá, đảm bảo cho NLĐ làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động và một phần tích lũy tái sản xuất theo đúng quy định tại Điều 56 Bộ luật Lao động.
Xin cảm ơn Chủ tịch!
Theo Dương Minh Đức
Lao động
21/05/2011 09:34
Không bị đồng tính bẩm sinh, không đồng tính theo kiểu trào lưu, nhiều cô gái khi sinh ra hoàn toàn bình thường, lớn lên ngoan ngoãn nhưng đã bị chính người bạn gái thân thiết có bệnh đồng tính lôi kéo, thậm chí “cưa đổ” để rồi lao vào cuộc sống của người đồng tính…
Tá hoả thấy con gái quan hệ đồng tính
Đã hai chục năm kể từ khi sự việc xảy ra, bà Minh (ở Đồng Tâm, Hai Bà Trưng - Hà Nội) vẫn không khỏi bàng hoàng khi nhớ lại lần đầu tiên bà phát hiện ra con gái mình có quan hệ đồng tính.
Gia đình bà sinh sống tại một ngôi nhà 2 tầng, trong đó phòng của con gái bà ở tầng 2. Cô con gái hiền lành, nhút nhát (tên Hương) của bà rất ít nói và sống khép kín. Là một nữ công nhân ở nhà máy dệt 8/3, cô đi làm ca nên về không theo giờ giấc cố định nào. Để khỏi ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình, cô có chìa khoá phòng riêng, đi về tự mở.
Cho đến một hôm, khi con gái bị ốm phải nằm viện, bà Minh mở cửa vào để dọn phòng giúp con. Khi đó, bà đã vô cùng sốc khi thấy trong gầm giường của con gái đầy những đầu mẩu thuốc lá. Kinh hoàng, bà nghĩ con gái thường dẫn bạn trai về qua đêm ở đó mà mình không biết. Nhưng đến khi tìm hiểu kỹ, bà còn sốc nhiều hơn khi biết chủ nhân của những đầu mẩu thuốc lá lại là một… cô gái thất học, không có công ăn việc làm ổn định và trông rất ngổ ngáo.
Thương con, nhưng bà vẫn cố bình tĩnh tìm cách gần gũi, thuyết phục và cuối cùng, con gái bà đã kể tất cả.
Theo lời kể của Hương, từ nhỏ tới lớn, cô không hề có cảm tình đặc biệt nào với bạn cùng giới, càng không bao giờ nghĩ mình có thể “yêu” một cô gái. Cho đến một lần, trong lúc đi làm ca đêm về, cô bị một đám thanh niên giở trò sàm sỡ và đã được một cô gái ra tay giúp đỡ. Từ đó, hai người trở thành bạn thân. Tính Lan (cô bạn gái - ân nhân) ngang tàng như một người đàn ông. Cô này biết uống rượu, hút thuốc và cả… chửi thề, nhưng ngược lại luôn cư xử với Hương rất dịu dàng, như với một em gái nhỏ. Cô ta chăm sóc Hương tận tình, đón Hương đi làm về vào những lúc tan ca đêm, không để ai bắt nạt Hương.
Là cô bé nhút nhát, Hương bị cô gái “rạch giời rơi xuống” này lôi cuốn. Lối cư xử của người bạn này khiến Hương cảm thấy mình được che chở, bao bọc hơn bất kỳ ở bên cạnh người đàn ông nào. Những người bạn trai khác mà Hương quen biết dần trở nên mờ nhạt trước người bạn gái này. Cho đến khi Lan nói thật với Hương mình là người đồng tính, và rất yêu Hương, mặc dù rất sốc nhưng Hương đã không thể rời xa Lan.
Để giấu gia đình, đêm đêm, Hương mở cửa sổ tầng hai và để “người tình” đồng giới của mình trèo vào “tâm sự”. Gần sáng, Lan lại trèo tường trở về nhà mình, một ngôi nhà mà ở đó, chẳng ai quan tâm đến việc cô ta đi đâu hay làm gì.
Tuy nhiên, nhận thấy mối quan hệ của hai người là không bình thường, bởi Hương không thể cùng Lan tay dắt tay nhau đi dạo phố, hoặc dẫn về gia đình như những cặp đôi khác, Hương đã nghĩ đến chuyện chia tay Lan. Nhưng xa Lan, Hương lại thấy nhớ nhung và thèm những cử chỉ âu yếm, những hành động “ga lăng” của người bạn tình trớ trêu này.
Mối quan hệ trái ngang kéo dài suốt 2 năm, cho đến khi mẹ Hương phát hiện ra chuyện động trời này. Mềm mỏng nhưng cương quyết, bà từng ngày từng giờ gần gũi, giảng giải, tìm đủ mọi cách giành giật lại đứa con yêu quý của mình khỏi con đường lầm lạc. Trong lúc đó, Lan lồng lộn tìm cách để được gần Hương. Cô ta rình mò, thậm chí có hôm còn nhảy qua tường nhà máy vào tận nơi để gặp “người yêu”.
Quãng thời gian đó đối với Hương như trong địa ngục. Dù vẫn còn vương vấn, nhớ nhung Lan, nhưng sau khi được gặp bác sĩ, cô biết mình không phải là người đồng tính mà chỉ vì quan hệ quá mật thiết, được yêu chiều, chăm sóc, lâu dần Hương đã bị lôi kéo vào mối quan hệ không bình thường này. Cuối cùng, gia đình Hương đã xin việc cho Hương tận TP. Hồ Chí Minh để tách cô ra khỏi người tình bất đắc dĩ.
Thời gian cũng xoa dịu vết thương. Mấy năm sau, Hương lấy chồng và sinh được 2 đứa con gái. Cô thật sự hạnh phúc với người đàn ông của đời mình. Khi nhớ lại chuyện cũ, Hương không khỏi đau xót cho một thời lầm lạc. Nếu mẹ cô không kịp phát hiện, có lẽ giờ đây cô vẫn sống trong bóng tối và tưởng rằng mình là “less”.
Bị “sếp nữ lôi kéo
Theo kinh nghiệm của nhiều người đồng tính, những cô gái nhút nhát, ít nói thường dễ bị những người đồng tính nữ “yêu” và lôi kéo.
Phương, từng là nhân viên của một quán bia hơi thuộc quận Hai Bà Trưng là một ví dụ. Là cô gái ở ngoại thành, cách đây hơn 10 năm, Phương vào thành phố xin việc và làm tại một quán bia hơi. Chủ nhân quán bia là một người phụ nữ hơn Phương 15 tuổi. Với tính tình hiền lành và đặc biệt ít nói, Phương được chủ quán giao nhiệm vụ rót bia để các nhân viên phục vụ bàn bê đi.
Lúc đầu, cô thực sự vui mừng và cảm động khi được chị chủ quan tâm và đối xử rất chu đáo. Nhà xa, Phương được chị này cho ở lại, thậm chí còn ngủ cùng giường. Sáng ra, bao giờ chị chủ cũng rủ cô đi ăn sáng cùng. Tối đến, tự tay chị chủ nấu bát mì đầy dưỡng chất cho Phương. Có điều hơi lạ là kể cả những lúc đông khách, không bao giờ chị chủ cho phép Phương tự tay bưng bê hay tiếp xúc với khách hàng. Đặc biệt, khi có khách nào là đàn ông buông lời đùa cợt với Phương, chị chủ liền nổi đoá và sẵn sàng đuổi ông khách đó ra khỏi nhà hàng.
Đối với chị chủ, Phương như mang một cái ơn tình nghĩa, bởi cảm thấy mình là một cô gái quê ra thành phố mà lại gặp được người tốt đến như vậy chở che. Cho đến một đêm, khi đang mơ màng ngủ, Phương giật mình thấy bàn tay của chị chủ lướt trên người mình…
Suốt thời gian sau đó, Phương sống như người mộng du. Một mặt, Phương không muốn mất việc làm, mất đi sự “ưu ái” đặc biệt của chủ, mặt khác, Phương lại muốn thoát ra, bỏ chạy. Từ khi lộ rõ mình là một người đồng tính, nữ chủ quán công khai mối quan hệ với Phương, chăm sóc tận tình hơn, nhưng cũng ghen tuông kinh hoàng hơn…
Mối quan hệ này cũng kéo dài đến hơn 2 năm trời. Phương vốn ít nói, giờ thì mặt cô lúc nào cũng buồn rười rượi. Rồi Phương gặp được Nam, một người đàn ông mới đi lao động xuất khẩu ở Đức về. Anh này cũng là khách của nhà hàng nơi Phương làm việc. Biết tính chủ, Phương chỉ dám lén lút hẹn hò gặp Nam những khi cô về nhà chơi và cuối tuần. Đến khi hai người quyết định sẽ kết hôn, Phương mới dám thú thực với “người tình” đồng giới.
Quá sốc trước nguy cơmất “người yêu”, nữ chủ quán điên loạn ghen tuông, về tận nhà Phương để “đánh ghen” và đe doạ giết cả hai. Quá hoảng sợ, gia đình Phương đã phải cho cô nghỉ việc, báo chính quyền, cử người canh giữ con gái và “cắt” quan hệ với cả hai người yêu, một nam, một nữ. Phải đến 4 năm sau đó, Phương mới hoàn hồn và yêu một người con trai khác. Bây giờ, cô cũng đã yên ấm với gia đình của mình, nhưng như con chim sợ cành cong, Phương chẳng bao giờ dám thân thiết với một người bạn gái nào nữa.
Tuệ Khanh