– 10 năm sau lũ lịch sử 1999, miền Trung không chỉ tiếp tục gánh thiên tai nặng nề mà còn chịu thêm mối hoạ từ… nhân tai.
Trận lũ khủng khiếp nhất trong 100 năm qua
 |
|
Năm 1999, miền Trung từng gánh chịu trận lũ lụt khủng khiếp nhất trong vòng 100 năm qua Ảnh: HC |
Nguyên Cục trưởng Cục quản lý đê điều và PCLB Nguyễn Ty Niên nhớ lại: “Đấy là trận lũ khủng khiếp chưa từng gặp, lượng mưa từ ngày 1 – 6/11/1999 phổ biến từ 600 – 900mm, nhiều nơi mưa lớn như Thạch Hãn 1.346mm, Tiên Phước 1.453mm, Hiệp Đức 1.370mm, Câu Lâu 1.211mm, đặc biệt A Lưới 2.271mm, Thuế 2.288mm. Trong đó, mưa một ngày tới 1.384mm là lượng mưa lớn chưa từng thấy trong chuỗi số liệu đo đạc hơn 100 năm ở nước ta...".
Theo ông Niên, mưa lớn đã gây nên lũ lịch sử trên toàn vùng. Ngập lụt lớn, chia cắt giữa các vùng; 20 huyện, thị xã ngập lụt sâu từ 2 – 4m nước, sông Hương đổi dòng mở ra hai cửa Hoà Duân và Vĩnh Hải thoát lũ ra biển là hiện tượng chưa từng xảy ra”.
|
Đúng 10 năm sau cơn lũ lịch sử tháng 11/1999, ngày 27/11 tại Đà Nẵng, Cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão (Bộ NN-PTNT) đã tổ chức cuộc hội thảo với sự tham dự của lãnh đạo UBND, Ban chỉ huy PCLB các tỉnh, thành miền Trung nhằm rút kinh nghiệm, đánh giá công tác phòng chống thiên tai, đặc biệt là lũ lụt lớn trong một thập niên qua. |
Đại diện tỉnh TT - Huế, địa phương chịu thiệt hại nặng nề nhất trong cơn lũ lịch sử 10 năm trước cho biết thêm, mưa to dồn dập, nước lên nhanh với cường suất có lúc 1m/giờ, 90% khu dân cư vùng gò đồi phía Tây QL1A bị ngập sâu từ 1,5 – 4m; thượng nguồn sông Hương và sông Bồ có lúc mực nước dâng cao đến 8 – 9m.
Theo ông Nguyễn Ty Niên, công tác truyền thông đã đóng một vai trò rất quan trọng khi nguyên Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Huy Ngọ thông báo tình hình và những biện pháp cấp bách đối phó với thiên tai được trực tiếp truyền hình trên cả nước.
“Đây là một hiện tượng truyền thông chấn động cả nước mà đội ngũ truyền thông góp sức lớn, trở thành nề nếp và ngày càng phát triển” – ông Niên đánh giá.
Mỗi tháng có 1,1 cơn bão đổ vào miền Trung
10 năm qua, miền Trung chỉ có 3 năm 2002, 2004 và 2008 được tạm coi là bình lặng, còn năm nào cũng phải gánh chịu thiên tai với cường độ ảnh hưởng và mức độ tàn phá ngày càng mạnh hơn.
Trung bình, mỗi tháng có 1,1 cơn bão đổ bộ vào khu vực miền Trung trong giai đoạn từ năm 1999 – 2008, các trận mưa lũ lớn tăng lên rõ rệt.
 |
|
Cơn bão Chanchu (tháng 5/2006) đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho ngư dân miền Trung Ảnh: HC |
Ông Huỳnh Vạn Thắng, Phó Ban thường trực Ban chỉ huy PCLB Đà Nẵng cho hay, trước đây, bình quân 10 năm mới có một trận lụt lớn, thì 10 năm qua đã xuất hiện nhiều cơn lũ lớn. Qua cơn bão Xangsane (tháng 10/2006) cho thấy 3 vấn đề: dự báo trúng và chỉ đạo tập trung, khả năng tổ chức ứng phó với thiên tai đã nâng lên trình độ cao (toàn vùng đã hướng dẫn 63.000 tàu thuyền và sơ tán khẩn cấp 58.000 hộ dân với 270.000 người về nơi trú ẩn an toàn trước khi bão đổ bộ).
Tuy nhiên, sự thiệt hại nặng nề về công nghiệp và cơ sở hạ tầng cho thấy việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển và thiên tai đang bộc lộ nhiều vấn đề.
Đặc biệt, đúng 10 năm sau cơn lũ lịch sử 1999, một tổ hợp thiên tai nặng nề đã hình thành nên bão số 10 (Ketsana) đổ bộ vào Quảng Nam, Quảng Ngãi với cường độ trên cấp 10 có bán kính 200km, trên cấp 6 có bán kính 350km. Tây Nguyên là vùng bị thiệt hại rất nặng nề cả về người (riêng Kon Tum đã có 40 người chết, mất tích) và sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày như café, cao su, điều…
Tiếp đó, cơn bão số 11 đổ bộ từ Bình Định đến Khánh Hoà với sức gió cấp 11 và gây mưa lớn trên diện rộng từ 200 – 400mm, gây nên những hậu quả nặng nề.
Thêm mối hoạ từ… nhân tai
“Thiên tai năm 2009 cho thấy điều gì? Đó là Tây Nguyên không còn là vùng ít thiên tai, trái lại đã phải hứng chịu hậu quả nặng nề nhất của cả bão và lũ, phải lâu dài mới khắc phục được. Biến đổi khí hậu thì chưa rõ rệt nhưng nhân tai thì quá rõ ràng. Những bãi gỗ trôi đến tận cuối sông Vu Gia, Thu Bồn, Dakbla; những dòng sông trơ sỏi đá sau lũ, những ngôi làng bị xoá sổ cho thấy rừng bị tàn phá nặng nề không còn kiểm soát được, cộng thêm nạn khai thác khoáng sản, vấn đề xả lũ thuỷ điện… tác động đến cả cội nguồn văn hoá của đồng bào dân tộc!” - ông Niên nói.
Từ thiên tai năm 2009, các đại biểu tham dự hội thảo thống nhất cho rằng, vấn đề quản lý tổng hợp lưu vực sông đang trở nên cấp bách cả về thể chế, hiệu lực và quyền lực một cách hữu hiệu cả về khoa học và điều hành mang tính đảm bảo an toàn quốc gia.
Lũ lụt miền Trung – Tây Nguyên vừa qua cần được đánh giá toàn diện, trong đó có vấn đề xả lũ của thuỷ điện. Thuỷ điện ở khu vực này chỉ an toàn và đem lại hiệu quả cao nếu được điều hành thống nhất và hiệu lực theo lưu vực, còn với tình trạng các thuỷ đứng riêng rẽ và độc lập như vừa qua thì sẽ dẫn đến thảm hoạ.
“Những gì đã xảy ra là bài học cảnh tỉnh cần được các bên liên quan, các cấp có thẩm quyền xem xét một cách nghiêm túc, cầu thị, khoa học và có trách nhiệm trước nhân dân. Phải nói thêm rằng một số cán bộ có trách nhiệm cho rằng các thuỷ điện đã vận hành đúng quy trình. Nhưng vấn đề là quy trình nào? Không thể xét theo lợi ích cụ thể của doanh nghiệp mà vấn đề ở đây là phải đứng trên góc độ về an toàn dân sinh, an toàn có tầm quốc gia để xem xét một quy trình!” - một đại biểu bức xúc nói.
Bên cạnh đó, nhiều đại biểu cũng nhấn mạnh tình trạng các kết cấu hạ tầng ở miền Trung – Tây Nguyên, nhất là giao thông, tiếp tục bị tàn phá do thiên tai, mang tính phổ biến và hệ thống. Trong đó, tổ hợp bão – lũ là thiên tai nặng nề nhất. Do vậy ở khu vực này, yếu tố thiên tai không phải là lồng ghép mà phải trở thành một nhân tố đảm bảo sự bền vững cho mỗi dự án, công trình cũng như tổ chức cuộc sống của toàn xã hội.